Trang chủ » Docat và cuộc sống » Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI ca ngợi Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II là ‘người khôi phục tự do’ của Giáo hội

Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI ca ngợi Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II là ‘người khôi phục tự do’ của Giáo hội

by psg
720 lượt xem
Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI ca ngợi Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II là 'người khôi phục tự do’ của Giáo hội

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II chào đón Đức Hồng Y Joseph Ratzinger trong lễ nhậm chức ngày 22 tháng 10 năm 1978.

Ảnh: Truyền thông Vatican

Nhân viên CNA, ngày 15 tháng 5 năm 2020 / 03:00 sáng MT (CNA).- Đức Giáo Hoàng (ĐGH) Gioan Phaolô II là “người khôi phục tự do của Giáo hội” trong những năm đầy biến động sau Công đồng Vatican II, ĐGH  Bênêđictô XVI đã nói trong bức thư kỷ niệm 100 năm ngày sinh của thánh Gioan Phaolô II.

Trong một thông điệp gửi cho Đức Hồng Y Stanisław Dziwisz, thư ký riêng của ĐGH Gioan Phaolô II, nguyên Giáo hoàng nói rằng ĐGH Ba Lan đã phải đối mặt với “một nhiệm vụ gần như bất khả thi” khi Đức Gioan Phaolô được bầu vào vị trí Giáo hoàng năm 1978. 

ĐGH Bênêđictô đã viết rằng: “Tuy nhiên, ngay từ giây phút đầu tiên, Đức Gioan Phaolô II đã khơi dậy sự nhiệt tình cho Chúa Kitô và Giáo hội của Người. Câu nói của ngài từ bài giảng tại lễ đăng quang ngôi vị Giáo hoàng của mình: ‘Đừng sợ! Mở ra, mở rộng cánh cửa cho Chúa Kitô!’ Lời kêu gọi và giai điệu này sẽ mô tả toàn bộ cuộc đời Giáo hoàng của ngài và khiến ngài trở thành người khôi phục tự do của Giáo hội”.

Trong một lá thư 2.000 chữ kết hợp những hồi tưởng cá nhân với suy tư thần học, nguyên ĐGH đã dõi theo cuộc đời của Đức Gioan Phaolô II từ khi sinh ra ở Ba Lan – đất nước mới độc lập vào ngày 18 tháng 5 năm 1920 – đến khi ngài qua đời vào ngày lễ Lòng Chúa Thương Xót ngày 02 tháng 04 năm 2005. 

ĐGH Bênêđictô cũng bảo vệ sự toàn vẹn án phong thánh của Đức Gioan Phaolô II và cho rằng lịch sử sẽ quyết định liệu ngài có xứng đáng với danh hiệu “Vĩ nhân” hay không, cùng với các Giáo hoàng Lêô I và Grêgôriô I. 

Bức thư viết ngày 4 tháng 5 đã được công bố vào ngày 15 tháng 5, lúc 11 giờ sáng theo giờ địa phương bởi văn phòng báo chí của các Giám mục Ba Lan, nơi cung cấp bản dịch tiếng Anh từ bản gốc tiếng Đức.

ĐGH Bênêđictô, người kế vị ĐGH Gioan Phaolô II năm 2005, nói rằng người tiền nhiệm của ngài được sinh ra vào thời điểm cả hai “bị áp bức” và “một niềm hy vọng lớn”. Ba Lan đã giành lại độc lập vào năm 1918, nhưng vẫn bị Đức và Nga đe dọa. 

Ngài nhớ lại rằng sau khi Đức quốc xã chiếm Ba Lan năm 1939, chàng trai trẻ Karol Wojtyła đã làm việc trong mỏ đá của một nhà máy hóa chất trong khi bí mật chuẩn bị đi tu. 

“Tất nhiên, Karol không chỉ nghiên cứu thần học trong sách mà còn qua trải nghiệm của mình về tình huống khó khăn mà Karol và đất nước của mình cùng lâm vào cảnh này”, ĐGH Bênêđictô viết. 

“Đây là một phần đặc trưng của Karol trong toàn bộ cuộc sống và công việc. Karol đã nghiên cứu sách và những câu hỏi của độc giả đặt ra đã trở thành hiện thực đúng như Karol đã sống và trải nghiệm sâu sắc”.

ĐGH Bênêđictô nói rằng giáo hoàng tương lai cũng được định hình bởi Vatican II, trong các phiên họp đầu tiên mà ngài tham dự với tư cách là Giám mục phụ tá và sau đó là Tổng giám mục Kraków.

“Công đồng Vatican II trở thành trường học của Đức Gioan Phaolô trong suốt cuộc đời và công việc của ngài”, ĐGH đã quan sát, nêu bật những đóng góp của Đức Gioan Phaolô cho Hiến Chế Mục vụ về Giáo Hội trong Thế giới Ngày nay, năm 1965, Gaudium et spes.

“Câu trả lời được tiếp nối bởi Công đồng sẽ mở đường cho sứ mệnh của ngài với tư cách là giám mục và sau đó, là giáo hoàng”, ĐGH Bênêđictô đã viết. 

Ngài chia sẻ rằng khi Đức Gioan Phaolô II được bầu vào chức giáo hoàng, Giáo hội đã đối diện “một tình huống trớ trêu”.

Ngài đã viết: “Những ý kiến ​​của Công đồng đã được trình bày trước công chúng như là một cuộc chống lại đối với chính Đức tin, điều này dường như làm mất đi sự chắc chắn và không thể lay chuyển của Công đồng. Chẳng hạn, một linh mục giáo xứ xứ Bavaria đã bình luận về tình huống này: ‘Cuối cùng, chúng tôi đã rơi vào tình cảnh sai lầm trong đức tin.’” 

“Cảm giác này không còn gì chắc chắn nữa, mọi thứ đều bị nghi ngờ, thậm chí còn được đánh giá cao hơn bằng phương pháp thực hiện cải cách phụng vụ. Cuối cùng, dường như phụng vụ có thể tự tạo ra được”. 

ĐGH Bênêđictô tiếp tục chia sẻ: “Khi Đức Phaolô VI yêu cầu Công đồng sử dụng năng lực quyền hạn và quyết tâm của mình để chấm dứt sự nghi ngờ này, nhưng sau khi kết thúc, Đức Gioan Phaolô đã phải đối mặt với những vấn đề cấp bách hơn liên quan đến sự tồn tại của Giáo hội”. 

“Vào thời điểm đó, các nhà xã hội học đã so sánh tình hình của Giáo hội với tình hình của Liên Xô dưới sự cai trị của Gorbachev, trong đó bộ máy quyền lực của nhà nước Xô Viết đã sụp đổ trong quá trình cải cách”.

Ngài nói rằng Đức Gioan Phaolô II đã có thể khôi phục trạng thái cân bằng của Giáo hội, bởi ngài đã có trải nghiệm thực tế là Giáo hội Ba Lan đã trải qua một “cuộc đổi mới đầy hứng khởi” sau khi Vatican II đấu tranh chống lại chủ nghĩa cộng sản.

Thông qua các chuyến công du rộng khắp nơi và 14 tông huấn của mình, ĐGH Ba Lan đã chia sẻ “một thông điệp về niềm vui”, và đã “trình bày một cách toàn diện đức tin của Giáo hội và giáo huấn trong tinh thần nhân loại ”, ĐGH Bênêđictô nói. 

Ngài xác định “trung tâm đích thực” trong cả cuộc đời của thánh Gioan Phaolô II là lòng sùng kính Lòng Chúa Thương Xót được dẫn dắt bởi nữ tu Ba Lan Faustina Kowalska. 

ĐGH Bênêđictô, người phục vụ với tư cách là Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin của tòa thánh dưới thời Đức Gioan Phaolô II, nhớ lại rằng Bộ Giáo lý Đức tin đã hai lần khuyên ĐGH không nên thiết lập Chúa nhật Thứ Hai của Lễ Phục Sinh là Chúa nhật Lòng Chúa Thương Xót. 

“Chắc chắn không dễ dàng để Đức Thánh Cha chấp nhận câu trả lời của chúng tôi”, ngài nhớ lại. “Tuy nhiên, Đức Gioan Phaolô II đã làm như vậy với sự khiêm tốn và chấp nhận phản ứng tiêu cực của chúng tôi lần thứ hai. Cuối cùng, Đức Gioan Phaolô II đã đưa ra một đề nghị thay nghi thức truyền thống của Lễ Chúa nhật Thứ Hai Phục Sinh bằng thông điệp Lòng Chúa Thương Xót”.

“Sau đó, có nhiều trường hợp tương tự mà tôi bị ấn tượng bởi sự khiêm nhường của vị giáo hoàng vĩ đại này, người đã từ bỏ những ý tưởng mà chính mình ấp ủ vì ngài không thể nhận được sự chấp thuận của các cơ quan chính thức, mà phải tuân  theo các quy tắc đã được thiết lập”.

ĐGH Bênêđictô đề nghị rằng những người giới thiệu Đức Gioan Phaolô II như là một nhà đạo đức nghiêm khắc thì nên xem xét kỹ thông điệp của ngài: “cuối cùng lòng thương xót của Chúa mạnh hơn sự yếu đuối của chúng ta”.

“Ngoài ra, tại thời điểm này, chúng ta cũng có thể thấy sự thống nhất bên trong thông điệp của Đức Gioan Phaolô II và ý định chính của Giáo hoàng Phanxicô có thể được nhìn nhận: Đức Gioan Phaolô II không phải là người nghiêm khắc về đạo đức như một số người đã miêu tả một phần về ngài”, ĐGH Bênêđictô đã viết. 

“Với tâm điểm của lòng Chúa thương xót thiêng liêng, ngài cho chúng ta cơ hội chấp nhận các yêu cầu đạo đức cho con người, ngay cả khi chúng ta không bao giờ có thể đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đó. Ngoài ra, những nỗ lực đạo đức của chúng ta được thực hiện dưới ánh sáng của lòng Chúa thương xót thiêng liêng, điều đó chứng tỏ là một sức mạnh chữa lành cho sự yếu đuối của chúng ta”.  

ĐGH Bênêđictô XVI kể lại rằng vào ngày tang lễ của Đức Gioan Phaolô II mà ngài đã chủ trì, đã có tiếng khóc vang lên “Thánh bây giờ!” (“Santo subito!”)1 Bên cạnh những lời kêu gọi phong thánh này, còn có một cuộc thảo luận “trong các nhóm trí thức khác nhau” về việc liệu Đức Gioan Phaolô có nên được phong tặng danh hiệu “Vĩ nhân” hay không.

ĐGH Bênêđictô đã hủy bỏ thời gian chờ đợi 5 năm sau khi chết theo thông lệ đối với các án phong thánh, và lần này cho phép mở án phong thánh chỉ một tháng sau khi Đức Gioan Phaolô II qua đời. Nguyên Giáo hoàng khẳng định rằng “quy trình phong thánh được tuân theo đúng quy tắc hiện hành”.

Ngài nói rằng, trong khi rõ ràng Đức Gioan Phaolô II xứng đáng được phong thánh, thật khó để định nghĩa từ “vĩ đại”. ĐGH lưu ý rằng chỉ có hai giáo hoàng trong lịch sử gần 2.000 năm của Giáo hội được gọi là “Vĩ nhân” – ĐGH Lêô I, người đã thuyết phục Attila the Hun2 tha cho Rome và ĐGH Grêgôriô I, người đã bảo vệ thành phố khỏi những người Lombards3  .

“Nếu chúng ta so sánh cả hai câu chuyện với Đức Gioan Phaolô II, thì sự tương đồng là không thể nhầm lẫn”, ĐGH Bênêđictô đã viết. “Đức Gioan Phaolô II cũng không có quyền lực quân sự hay chính trị. Trong cuộc thảo luận về hình dạng tương lai của Châu Âu và Đức vào tháng 2 năm 1945, người ta nói rằng phản ứng của Giáo hoàng cũng cần được tính đến. Stalin sau đó hỏi: ‘Giáo hoàng có bao nhiêu sư đoàn?’ Chà, ngài ấy không có bất kỳ sư đoàn nào. Tuy nhiên, sức mạnh của đức tin hóa ra là một sức mạnh đã làm hệ thống quyền lực của Liên Xô vào năm 1989 rối lên và tạo ra một khởi đầu mới”.

“Không thể chối cãi, đức tin của Giáo hoàng là một yếu tố thiết yếu trong sự sụp đổ của các thế lực. Và vì vậy, sự vĩ đại xuất hiện trong Lêô I và Grêgôriô I chắc chắn cũng được nhận thấy”.

Nhưng ĐGH Bênêđictô kết luận rằng câu hỏi liệu Đức Gioan Phaolô II có nên được gọi là “Vĩ nhân” hay không nên là một đề tài mở.

“Một sự thật là sức mạnh và lòng tốt của Chúa đã hiện hữu đối với tất cả chúng ta qua Đức Gioan Phaolô II. Trong một thời gian mà Giáo hội lại phải chịu đựng sự áp bức của cái ác, ngài đã dành cho chúng ta một dấu hiệu của niềm hy vọng và sự tự tin”, ĐGH Bênêđictô chia sẻ.

Jun Phan (CNA)

Chú thích:

“Santo subito!”1: Là một khẩu hiệu trong tiếng Ý, để đòi sự phong thánh nhanh chóng cho ĐGH Gioan Phaolô II trong lễ tang của ngài năm 2005.

Attila the Hun2: Ông là 1 trong những kẻ thù đáng sợ nhất của đế quốc La Mã phương tây và phương đông.

Lombards3: Người Lombard hay Langobard (tiếng La TinhLangobardī) là một bộ tộc German đã thống trị một vương quốc ở Ý từ năm 568 đến 774.

 

0 Bình luận

Để lại bình luận của bạn

Các bài viết cùng chuyên mục